LỊCH SỬ RA ĐỜI CỦA CÁC HỘI THÁNH TƯ GIA:
Khái quát sự ra đời các Hội thánh tư gia tại Việt nam.
Tuyển dân Giu-đa đang thụ án phạt 70 năm phu tù Ba-bi-lôn. Với tất cả nhục nhã đắng cay để trả món nợ tội lỗi bội nghịch Đức Chúa Trời. Những người có lòng với Chúa như Đa-ni-ên, ba bạn Hê-bơ-rơ thì quặn thắt đau thương, chỉ biết hướng về đền thánh Giê-ru-sa-lem cầu nguyện. Họ không chịu ăn cao lương mỹ vị của vua; sẵn sàng chịu trả giá bằng mạng sống, giữ đức tin, không chấp nhận thờ thần tượng bằng vàng của Hoàng Đế Mê-đô-Ba-Tư đương thời.
Bối cảnh Việt nam sau biến cố 30 tháng tư năm 1975 cũng tương tự như dân Giu-đa phu tù Ba-bi-lôn.
Cám ơn Chúa, Ngài thành tín. Các Hội thánh Chúa nằm trong tay Ngài; các vua quan đời nay nằm trong tay Ngài. Ngài đã dấy lên những con người dám sống cho Phúc âm Vương quốc Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời không nhường vinh hiển cho bất cứ con người nào, giáo chủ nào xúc phạm đến Ngài!
Đúng như ân điển cho dân Do-Thái: 70 năm phu tù đã mãn, Chúa đưa dân Ngài từ Ba-by-lôn trở về dựng lại đền thờ và vách thành đã tan nát bởi Đế quốc Ba-bi-lôn.
Việt Nam cũng vậy, vào năm 1980 sau 70 năm ê chề với triết lý Tin Lành độc tôn, duy nhất độc quyền, tự mãn, kiêu ngạo. Tư duy lúc nào cũng cho mình là chính thống, ai không như mình là Tin Lành khác, là tà giáo…
Cùng với sự nghèo khổ vật chất , o ép tâm hồn, tan nát tâm linh; trăm bề, ngàn lối như bế tắc, vô vọng bởi chế độ độc tài, độc đoán của chính quyền vô thần Cộng sản.
Trong hoàn cảnh như không còn gì để mất; nhiều tôi con Chúa bắt đầu hạ mình ăn năn, kiêng ăn cầu nguyện, khẩn đảo ngày đêm. Các nhóm “Ê-xơ-ra, Xô-rô–ba-bên, Mạc-đô-chê, Giê-hô- sua….” Việt Nam ra đời.
Sự ra đời các nhóm tư gia là cột mốc quan trọng cho lịch sử Cơ Đốc giáo Việt nam, thêm vào vườn hoa thuộc linh với muôn hoa thơm cỏ lạ. Những con người chân đất nông dân, công nhân được Thánh Linh kêu gọi vào vườn nho khiến cho giai cấp tăng lữ Tin Lành bảo thủ ngạo mạn, phải cúi đầu tâm phục khẩu phục trong sự sợ hãi hèn nhát mất chiên, mất cò, mất uy tín danh dự.
Chúng ta không thể phủ nhận nhóm nhà thờ Trần Cao Vân của Mục sư Hồ Hiếu Hạ và nhà thờ An Đông của Mục sư Nguyễn Hữu Cương là một trong những tiền khu lót đường cho các phong trào tư gia Việt Nam.
Hơn ai hết chính những mục sư trong chăn, mới thấy rõ những con rận kinh khiếp; mục sư Hạ, mục sư Cương và nhiều tôi con đã thấy giáo quyền CM&A mục nát từ trong ra ngoài.
Họ đã âm thầm làm cách mạng chống lại những tư tưởng bảo thủ, trì trệ của Giáo quyền Tin Lành Việt Nam đã giết chết Tin Lành chân chính của Chúa Jesus.
Họ cũng không ngần ngại công bố phán xét những sai lầm, thối nát từ nơi thánh của lãnh đạo CM&A. Một số âm thầm hoặc công khai chống đối; một số bất phục tùng.
Mục sư Hồ Hiếu Hạ là một trong những người bất tín nhiệm Tổng liên hội. Sau này Mục sư Đinh Thiên Tứ nối bước đàn anh… Họ thiết lập tin lành trong tin lành, khiến cho tăng lữ CM&A ăn không ngon ngủ không yên; tìm mọi cách, liên minh mọi hướng (không miễn trừ liên kết với Pha-ra-ôn) để bảo vệ ngai vương độc quyền CM&A.
Hai phong trào ở Trần Cao Vân và An Đông đã ảnh hưởng khá lớn, có sức mạnh lan tỏa nhiều Chi hội từ Sài Gòn đến các địa phương miền nam.
Mục sư Hạ và mục sư Cương đã đào tạo nhiều môn đồ tốt; nhiều người được thay đổi tư duy không phải chỉ có CM&A là duy nhất chính thống.
Chính ảnh hưởng quá lớn của hai nhà thờ Trần Cao Vân và An Đông; khiến cho chính quyền Công sản và giáo quyền CM&A đã phải kết hôn mà không cần yêu nhau.
Họ đã tạo áp lực mọi thủ đoạn, kể cả thấp hèn nhất, làm mọi cách để Mục sư Hạ, mục sư Cương phải quy phục “nhị vị vương triều”.
Giải pháp cuối cùng là phải đưa mục sư Ha, mục sư Cương vào tù. Mục đích lớn nhất ngăn chặn ảnh hưởng hai ông và để rung cây nhát khỉ, khủng bố người khác đừng theo tin lành không phải CM&A.
Khi hai nhà thờ này bị đóng cửa, hai mục sư Hồ Hữu Hạ và Nguyễn Hữu Cương vào tù. Nhiều nhân sự cũng như hội chúng tỏa ra khắp các chi hội trong thành phố. Giống như Hội thánh Giê-ru-sa-lem bị bắt bớ dữ tợn thời công vụ sứ đồ.
Hội thánh Tuy Lý Vương của mục sư Đinh Thiên Tứ và Hội thánh Trương Minh Giảng của mục sư Trần Mai thừa kế gia tài thuộc linh vô giá này; mở đường cho mùa gặt năm thập niên 90 .
Mục sư Tứ Tuy Lý Vương thì giáo dục chương trình cá nhân chứng đạo; mỗi người truyền giáo mỗi lúc mọi nơi. Hội thánh thì truyền giảng hàng tối Chủ nhật. Số người tin mỗi ngày mỗi gia tăng, mỗi tháng mỗi tăng. Hội thánh trở thành phong trào truyền giáo; mọi người háo hức truyền giáo. Số người tin gia tăng đột biến, khiến cho lãnh đạo CM&A và nhà cầm quyền vốn đau đầu giờ phải sốt rét cấp tính.
Đầu năm 1989 nhà thờ đã hết chỗ ngồi. Các buổi nhóm tư gia đã tự phát hình thành. Đây cũng là một bản cáo trạng cho CM&A.
Rồi đến phong trào ngũ tuần bùng nổ năm 1990 ở Trương Minh Giảng của mục sư Trần Mai. Nhóm thầy Mai quy tụ được nhiều truyền đạo sinh đã gặp gỡ Chúa. Thầy Mai cho mượn phòng cao cầu nguyện, kiêng ăn. Kiêng ăn – tiếng mới – cầu nguyện cũng là cái gai của CM&A; bởi vì họ không có chủ trương kiêng ăn. Còn tiếng mới thì họ cho là tà linh – ma quỷ.
Có thể khẳng định, sự ra đời của các nhóm tư gia Việt nam là một bước ngoặc lịch sử không chỉ riêng cho các Hội thánh Chúa, mà cũng là những “ngôi Sao Mai” dẫn đường, là ánh sáng cuối đường hầm cho cả dân tộc: đổi mới, đổi mới tư duy; đổi mới kinh tế, chính trị và các mặt khác để có một Việt nam ngẩng đầu lên được như hôm nay.
Một điểm son của khối tư gia: thập niên 90, riêng khối tư gia mang về Chúa khoảng hơn một triệu rưỡi linh hồn, theo thống kê của ban Tôn giáo chính phủ. Trong lúc 70 năm CM&A chưa tới hai trăm ngàn tín hữu
NHÓM HỘI CHÚNG ĐỊA PHƯƠNG
Có thể nói nhóm Hội chúng địa phương là ngôi sao Mai dẫn đường cho các phong trào tư gia Việt nam khởi động. Thập niên 80 , Chúa đã dùng các nhóm nhỏ tư gia, chỉ năm ba người học kinh thánh, cầu nguyện chung, yêu thương chia sẻ ngọt bùi học theo Hội thánh đầu tiên. Nổi bật nhất là nhóm Nghê Thác Thanh. Người đứng đầu là ông Đặng Văn Đàn người Gò Công.
Nhóm Nghê Thác Thanh như quả bom Tô-ma-hốc xuyên phá vườn treo Ba-by-lôn nửa vời, đáng thương của Hội thánh Tin lành Việt nam; các văn phẩm ông Nghê là ngôi sao mai dẫn đường cho nhiều mục sư, truyền đạo CM&A xét lại bản chất bảo thủ, đức tin nửa vời của 70 năm phu tù tôn giáo gọi là Tin Lành chính thống.
Các văn phẩm ông Nghê là thuốc lắc cực mạnh, đủ đô và đã tỉnh thức tình trạng thuộc linh hâm hẩm, chôn ta-lâng, giấu nén bạc thiếu hiểu biết của các vị Lãnh đạo bảo thủ – cuối mùa CM&A.
Chúa đã lấy uy quyền trưởng nam Ê-sao của giai cấp tế lễ Hê-li CM&A Việt nam. Chúa vui lòng giao lại quyền trưởng nam cho các nhóm “Sa-mu-ên Hội thánh tư gia Việt nam”.
Dĩ nhiên, công tác của các Thầy Tế lễ thượng phẩm Hê-li hàng ngày vẫn dâng của lễ chiều, của lễ mai song hành.
Gia đình thầy tế lễ Hê-li vẫn sống giàu có, con trai Hê-li vẫn thói nào tật đó. Tất cả đang sống trong bình an nghĩa địa.
Sự ra đời của nhóm Nghê Thác Thanh này, cũng là tiếng chuông báo động cho căn bệnh ung thư di căn giai đoạn 2 của Hội thánh Tin lành miền nam Việt Nam.
Hơn 10 mục sư, truyền đạo đương chức, hoặc chờ bổ nhiệm của các môn sinh lỡ bước Thần học viện Nha trang, đã không chịu nổi thuộc linh bảo thủ độc tài của CM&A.
Họ nhận được các văn phẩm của ông Nghê Thác Thanh, Lý Thường Thụ từ Đài Loan. Tư tưởng ông Nghê như cánh tay nối dài, giúp họ dương cờ xí ly khai CM&A với những lời lẽ như búa bổ đầu người,”Phải ra khỏi ba-bi-lôn, ra khỏi con đại dâm phụ ngay”.
Người đứng đầu và có khả năng dịch từ tiếng Anh là Truyền đạo Đặng Văn Đàn, sau này gọi sứ đồ Rô-ma Gò công.
Nhóm mục sư Đàn tiếp nhận tư tưởng Nghê Thác Thanh giống như Tố Hữu tiếp nhận thức chủ nghĩa Mác-Lê-nin. Tất cả vui mừng như đang cơn nắng hạn gặp trận mưa rào. Với tất cả sự chân thành, phấn khởi tràn ngập niềm tin: chân lý đây rồi!
“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lý chiếu qua tim
Lòng tôi là một vườn đầy hoa lá
Rất đậm mùi hương, rộn tiếng chim”.
Như chiếc phao cứu sinh sau nhiều năm sống trong bể khổ đau bệnh tật, bắt bớ, khó dễ của chính quyền; lẫn tư tưởng bảo thủ trì trệ, độc tài độc đoán của thế hệ Hê-li già nua, bảo thủ, quá oải, quái chiêu của CM&A.
Đúng 70 năm phu tù đã mãn. Nhóm Hội chúng địa phương, người cầm đầu ông Đặng văn Đàn, cùng hơn 10 truyền đạo CM&A khác tuyên bố ly khai CM&A, thành lập hội thánh tư gia đầu tiên; lấy tên Hội chúng địa phương.
Tại sao có tên hội chúng địa phương ?
Tên Hôi chúng địa phương, do anh Đàn sáng tác, vì chữ Hội Thánh CM&A đã sử dụng rồi. Vốn con người lập dị, muốn khác đời nên dịch chữ Eclesia (kêu gọi ra khỏi thế gian) là hội chúng Asembly of God, thành Hội chúng địa phương. Nguyên ngữ Hội Thánh của Đức Chúa Trời tại địa phương…. Bây giờ đã thấy hố, đã đổi lại danh xưng “Hội Thánh của Đức Chúa Trời tại thành phố Hồ Chí Minh“.
Trong một thời gian ngắn, từ 1981 đến 1985 họ đã hình thành phát triển khắp 3 miền. Khoảng hơn 30 điểm nhóm.
Tư tưởng giáo lý Nghê Thác Thanh như cơn bão lốc xoáy, cuốn trôi hết những ức chế, uẩn khúc bao năm chịu đựng trong lòng. Họ nhiệt tình, hết lòng và tin đây là thời kỳ Cha đã điểm: Thời điểm của “Ê-xơ-ra, Ê-xơ-tê, Giê-hô-sua, Mạc-đô-Chê, Nê-hê-mi…” về xây dựng đền Thánh bắt đầu. Ba-bi-lôn phải sụp.
Các văn phẩm ông Nghê Thác Thanh được dịch và được sao chép bằng tay, chuyền nhau đọc, nhật tụng như Công giáo thuộc kinh lạy Cha, kính mừng Ma-ri-a.
Họ đi chân đất, chạy xe đạp cọt kẹt, ăn khoai mì khoai lang, chạy từ tỉnh này sang tỉnh khác chỉ mong thăm anh em hay để trao đổi khải tượng, được cầu nguyện tự do, được tự do chia sẻ sứ điệp khôi phục.
Sứ điệp Nghê Thác Thanh được nâng lên là “lời sự sống”. Họ suy gẫm sứ điệp, hơn cả lời Chúa. Thờ phượng chỉ đọc sứ điệp, kinh thánh chỉ hỗ trợ cho sứ điệp sự sống của Đại sứ đồ Nghê-Lý. Bất cứ điều gì cũng phải tra cứu anh Nghê, anh Lý có nói như vậy không?
Rất rất nhiều câu chuyện đáng thương, đáng kính và cũng có nhiều giai thoại từ Hội chúng địa phương cười ra nước mắt từ những ngày đầu anh em khôi phục.
Tôi cũng được vinh dự thêm tay, thêm chân nhiệt tình cổ súy, thuyết phục một số người theo đường lối đáng thương này.
Bước đầu có nhiều người ủng hộ, gia nhập, cả Công giáo lẫn Tin lành. Nhóm ông Nghê, sau này tự gọi là nhóm Hội chúng địa phương đem lại một ảnh hưởng không nhỏ, lan rộng khắp miền nam; khiến cho CM&A và cho cả chế độ không thể ngồi yên.
Tác phẩm nổi tiếng và có ảnh hưởng mãnh liệt của ông Nghê “Hội thánh chính thống, Nếp sống bình thường Cơ Đốc Nhân”, rồi đến những bài giải kinh Ê-xơ-ra xây dựng đền thờ, Nê-hê-mi xây dựng vách thành – củng cố tư tưởng: phải ra khỏi Ba-by-lôn tôn giáo.
“ Ê-xơ-ra” Đặng Văn Đàn tự nhận sứ đồ đầu tiên của Việt nam, dẫn đầu đoàn quân hùng hậu, nhiệt tình như Ê-xơ-ra tiến về thành Giê-ru-sa-lem.
Đoàn quân trên đường trở về gặp phải bọn khủng bố cướp cạn; lấy hết tài sản từ ba-by-lôn, tước luôn cả ấn chỉ của Hoàng Đế A-sê-ru; cho trở về xây dựng đền thờ Giê-ru-sa-lem.
Bao nhiêu nhiệt tình, nhiệt huyết, đức tin trông cậy, giờ trở lại con đường xưa em đi và tổ phụ em cũng đã đi: tay lại trắng tay. Ê-xơ-ra Đặng Văn Đàn cùng đoàn tùy tùng ngoan ngoãn xin làm hàn thần “Từ Hải” với Sê-sa Hồ tôn Hiến.
Sê-sa ra tay bắt bớ; người tự nhận sứ đồ với các môn đồ trung tín của đại sứ đồ Đặng Văn Đàn, cùng nhau ký vào bản cam kết không dám nhóm lại, với lời giải kinh phải “vâng phục nhà cầm quyền”.
Họ chấp hành mệnh lệnh Sê-sa: chưa được tư cách pháp nhân, không được nhóm lại. Chưa được nhà nước cấp phép truyền giáo là Tin Lành bất pháp, tổ chức trái phép… Cái gì cũng sai hết. Nhà nước là đúng nhất.
Thế rồi, sứ đồ mới thai ngén vội thành đồ sứ; anh Đàn phải từ giã Sài Gòn mến thương, giã từ anh em khôi phục trở về cố hương Gò Công Đông mai phục cắm câu chờ thời.
Sau này một cộng sự đắc lực của ông gọi: ông là “sứ đồ Rô-ma Gò Công, đồ sứ di tản chiến thuật”.
Một số anh em khác không vâng phục “đại sứ đồ” Đặng Văn Đàn hèn nhát. Phạm Xuân Nhân, Dương Thăng Long,… sẵn sàng chịu khổ vì Christ, chấp nhận bắt bớ, tiếp tục nhóm chui, nhóm hở, củng cố mở rộng Hội thánh cho đến hôm nay.
Căn bản tín lý nhóm Hội chúng địa phương đều lấy Kinh thánh làm nền tảng. Nhưng sự hiểu biết, ứng dụng thì nhóm này cực đoan quá khích.
Họ quá tin sự giải kinh theo khuynh hướng hình bóng học: mơ mơ ảo ảo của ông Nghê Thác Thanh, Lý Thường Thụ. Hai ông là hậu tự của “lục tài tử” nói vòng vo tam quốc, chẻ sợi tóc làm tư, làm tám; mê hồn trận người đọc theo lối truyện tàu: “hồi sau sẽ rõ”. Tư tưởng Nghê-Lý ru ngủ không thua gì ngàn lẻ một đêm.
Thậm chí, xem sách hai ông này là sách sự sống, là kim chỉ nam, sách gối đầu giường phải tụng niệm ngày đêm. Sứ điệp thay cả Kinh thánh. Như Khổng tử: “viết”, Mao trạch Đông “phán”…
Ba tín lý khiến Hội chúng địa phương sa bại
1. Không được gọi ai bằng thầy bằng Cha
” 8 Nhưng các ngươi đừng chịu người ta gọi mình bằng thầy; vì các ngươi chỉ có một Thầy, và các ngươi hết thảy đều là anh em. 9 Cũng đừng gọi người nào ở thế gian là cha mình; vì các ngươi chỉ có một Cha, là Đấng ở trên trời. 10 Cũng đừng chịu ai gọi mình là chủ; vì các ngươi chỉ có một Chủ, là Đấng Christ” – Mathio 23
Vì hiểu sai câu này, ông Nghê Thác Thanh đã biến thành một giáo lý chống đối kịch liệt các hệ thống Cơ Đốc Giáo quá tôn trọng thầy cha.
Rất thông cảm cho ông Nghê, bối cảnh lịch sử Trung Hoa thời ông Nghê, con cái Chúa bị áp bức ba tầng: Đế quốc xâm lăng – phong kiến, Cộng sản thống trị – bọn tăng lữ tôn giáo phương Tây cho đến bản xứ.
Một sự dồn nén quá mức trong lòng, chỉ mong có thời cơ bùng nổ. khi ông gặp được câu này “Nhưng các ngươi đừng chịu người ta gọi mình bằng thầy”, bao nhiêu uất ức cay đắng trong lòng bộc phát ra hết. Ông chống lại như giai cấp công nhân phá hết máy móc vì cho rằng vì nó mà làm thất nghiệp.
Trong câu này Chúa chỉ nói cho bọn Pha-ri-si giả hình quá mức; mà chữ thầy là Ra-bi, thay mặt Chúa.
Dĩ nhiên, bọn tăng lữ tôn giáo cũng quá kiêu ngạo trịch thượng muốn làm chúa làm cha thiên hạ, tạo giai cấp trong Hội Thánh thì cũng sai trật với Kinh Thánh.
Nhưng, không gọi ai bằng thầy thì cũng quá khích. Ê-li-sê gọi Ê-li bằng thầy thì sao! “Anh em đã làm thầy từ lâu rồi“
“Cũng đừng gọi người nào ở thế gian là cha mình; vì các ngươi chỉ có một Cha, là Đấng ở trên trời.”
Cha này viết hoa, là Đức Chúa Cha. Công giáo gọi giáo Hoàng là Đức Thánh Cha là đúng. Nhưng Công Vụ đoạn 7:2
“2 Ê-tiên trả lời rằng: Hỡi các anh, các cha,” lại mâu thuẫn sao!
Tại sao mình gọi ba mình là cha? lại mâu thuẫn “ở thế gian là cha“.
“10 Cũng đừng chịu ai gọi mình là chủ; vì các ngươi chỉ có một Chủ, là Đấng Christ.”
Nếu vậy, Vợ Áp-ra-ham gọi chồng là chủ lại cáng mâu thuẫn.
Chỉ vì câu này, họ đã chống đối kịch liệt, tạo thành một hàng rào ngăn cách với mọi anh em trong mọi hệ phái.
Tại sao các lẽ thật khác, họ không vâng phục triệt để như danh xưng thầy cha. Sâu xa vì ức chế tâm lý, dồn nén uất ức; đây là cơ hội để trả thù cho thỏa bản ngã kiêu ngạo. Không gọi bằng thầy, không cho ai gọi bằng thầy, nhưng cách hành xử thì lại độc tài, trịch thượng quá thầy cha.
Tại sao họ lại gọi thầy trong trường học? Gọi cha trong gia đình ? Gọi chủ trong công ty?…
Ông Nghê tưởng làm cách mạng Hội Thánh, nhưng vô tình đã tạo thêm hố sâu ngăn cách; tạo một dạng kiêu ngạo kiểu mới, tinh vi hơn cho lãnh đạo và tín đồ Hội chúng địa phương. Họ tự cô lập, tự trói mình vào ốc đảo.
Câu này, Chúa chỉ nói nhắc nhở với bọn Pha-ri-si, chứ không phải là một chân lý bắt buộc như ông Nghê đã hiểu.
Tưởng là vâng phục Chúa, nghĩ là làm cách mạng tôn giáo xóa bỏ giai cấp tăng lữ ngồi trên ngôi cao sang, nhưng họ tránh vỏ dưa, đạp phải vỏ dừa: tất cả đều là anh em, ông nội cũng là anh, bố cũng là anh; giống nhà tù, ai trên 100 tuổi mới gọi là anh; cá mè một lứa, cá đối bằng đầu, cào bằng. Hội thánh mất tôn tri trật tự, loạn cào cào, không còn thầy, không còn trách nhiệm; xấu hơn cả các hệ phái nhiều.
Khi người ta hỏi lại: “chúng ta gọi Chúa Jesus bằng gì cho đúng kinh thánh? Bằng anh – bằng thầy, bằng Chúa – bằng đầy tớ….” họ không trả lời được, hoặc lại cượng giải kinh thánh.
Đúng, biết một không biết mười, cứ tưởng vâng phục; nhưng phá hoại hơn là xây dựng.
Hội chúng ngay nay, vẫn chơi một mình, sống tách biệt, lập dị “kiêu ngạo mà tưởng khiêm nhường…”
2. Thờ phượng tự do trong ICo 14
“26 Hỡi anh em, nên nói thể nào? Khi anh em nhóm lại với nhau, trong anh em, ai có bài ca, hoặc bài giảng dạy, hoặc lời tỏ sự kín nhiệm, hoặc nói tiếng lạ, hoặc giải tiếng lạ chăng? Hãy làm hết thảy cho được gây dựng. 27 Ví bằng có người nói tiếng lạ, chỉ nên hai hoặc ba người là cùng; mỗi người phải nói theo lượt mình, và phải có một người thông giải. 28 Nếu không có ai thông giải, thì người đó phải làm thinh ở trong Hội thánh, mình nói với mình và với Đức Chúa Trời. 29 Người nói tiên tri cũng chỉ nên có hai hoặc ba người nói mà thôi, còn những kẻ khác thì suy xét. 30 Song, nếu một người trong bọn người ngồi, có lời tỏ sự kín nhiệm, thì người trước nhứt phải nín lặng. 31 Bởi vì anh em đều cứ lần lượt mà nói tiên tri được cả, để ai nấy đều được dạy bảo, ai nấy đều được khuyên lơn. 32 Tâm thần của các đấng tiên tri suy phục các đấng tiên tri. 33 Vả, Đức Chúa Trời chẳng phải là Chúa sự loạn lạc, bèn là Chúa sự hòa bình.”
Đây là sự phản khán thứ hai của ông Nghê Thác Thanh:
Công Giáo và các hệ phái Tin Lành, thì biến buổi thờ phượng Đức Chúa Trời như buổi diễn thuyết gồm diễn giả và độc giả. Nhà thờ là hội trường với đủ nhạc cụ âm thanh ánh sáng lung linh huyền ảo, có nhiều nhà thờ giống hộp đêm. Thánh linh họ bỏ qua một bên; các nguyên tắc thờ phượng theo phúc âm cũng phải đành gác lại.
Tăng lữ độc quyền giảng kiểu gì tùy hỷ; chương trình tùy tiện. Hội chúng thì chỉ biết vâng phục vô điều kiện. Buổi thờ phượng giống học chủ nghĩa Mác-Lê-nin. Ai được Chúa thăm viếng thì không chịu nổi, phải lên tiếng; mà lên tiếng thì phải bị loại ra khỏi nhà hội.
Sự ức chế Thánh Linh tột độ, khiến ông Nghê không đủ tỉnh táo kiềm chế bức xúc. Đoạn kinh thánh ICo 14 lại thêm giọt nước tràn ly. Thay đổi từ thái cực này sang thái cực khác tồi tệ hơn. Tìm tự do Thánh linh không thấy; xác thịt lại lên ngôi: Mạnh ai nấy nói, ai to mồm, dạn miệng thì cướp diễn đàn… Nhiều buổi thờ phượng trở thành tranh luận, xúc phạm nhau, đối nghịch nhau, thỉnh thoảng thượng cẳng chân hạ cẳng tay… Người nữ thì phải yên lặng trùm đầu vâng phục người nam, dù người nam là con trai của mẹ…
Họ đã ứng dụng ICo 14:26 quá máy móc. Thờ phượng thì có nhiều cách, nhiều buổi thờ phượng khác nhau. Trong buổi thờ phượng chính không phải không có diễn giả (ơn Giáo sư – tiên tri). Họ đã cào bằng chức vụ, ân tứ giáo sư . Không cho chuẩn bị sứ điệp, cảm động tùy hứng.
Chúa nói “trong lúc thờ phượng ai có…” câu này áp dụng khi làm chứng trong buổi thờ phượng; chứ không phải suốt buổi thờ phượng.
Buổi thờ phượng của hội chúng trở thành diễn đàn tự do, vô chính phủ; không còn ăn năn xưng tội cùng nhau, chỉ còn đến hưởng thụ Chúa.
Kết quả tệ hơn cả ban đầu Hội thánh Sạt-đe. Hội chúng địa phương mới chạm một chân vào Phi-la-đen-phi-a đã nhào tới Lao-đi-sê rồi !
Còn nhiều điều sai trật khác, không đủ thời gian nói hết.
3. Hỡi dân ta phải ra khỏi ba-bi-lôn
Sau 25 năm (2005) thất bại, như Thúy Kiều thấm mệt của 15 năm luân lạc:
“Giật mình mình lại thương mình xót xa…Cớ sao tan nát như hoa giữa đường!“.
Bế quan tỏa cảng, tất cả giáo phái Tin Lành là Ba-bi-lôn, là dâm phụ; phải lánh xa đi, phải ra khỏi nó… có một quyển sách “Bắt tay qua hàng rào“. Bắt tay chào hỏi anh em trong các hệ phái cũng phạm tội (đụng sự ô uế) giống như Y-sơ-ra-ên đụng phải người không chịu cắt bì…
Hội chúng địa phương giống như giai cấp công nhân buổi đầu cách mạng xã hội chủ nghĩa: đốt phá nhà máy, vì cho rằng tại máy móc làm họ thất nghiệp; tiêu diệt giai cấp tư bản… Còn rất rất nhiều chuyện thời kỳ quá khích của những anh hùng đức tin quái chiêu mù quáng…
Một thực tế đau lòng đã đến với các con lãnh đạo hội chúng. Nhiều con trai con gái của các lãnh đạo Hội chúng không tìm được người bạn đời để kết hôn; buộc phải lấy cả Ba-by-lôn, cả người ngoại… Một số thì thủ tiết chấp nhận làm hoạn quan bất đắc dĩ.
Bế môn tỏa cảng đã sai lầm, nhưng cái tôi cố chấp, bảo thủ quá lớn. Nhiều anh em đã thấy hố, có điều chỉnh, không dám ăn năn công khai; vẫn còn cực đoan quá khích, quá khích hơn cả ông Nghê thầy mình; đúng là Bảo hoàng hơn vua.
Anh em Hội chúng Hoa kỳ đã đến chỉnh sự sai lầm đó, nhưng lãnh đạo Hội chúng Sài Gòn không chịu thay đổi.
Riêng ông Lý thường Thụ những ngày cuối đời đã ăn năn vì tư tưởng quá khích của mình; nhưng các anh em đồng lao như Việt nam thì cố nắm sai lầm giữ đến cùng. Hy vọng qua ấn số 6 họ sẽ được tỉnh thức.
Hiện tại đã hơn 35 năm khôi phục, nhưng hội chúng vẫn chơi mình anh. Giống Bắc Hàn. Anh em giúp Kinh Thánh thì nhận, nhưng không bao giờ có lời cám ơn; gia sản của mình thì giống người Giê-ri-cô đóng chặt cửa thành cố thủ.
Ngày xưa thì lúc nào cũng kiến tạo, tỉa sữa, xử lý triệt để như quân đội Hít-le… hôm nay thì đảo ngươc 180 độ. Đến thờ phượng gọi là hưởng thụ Chúa, không còn quan tâm ăn năn xưng tội cùng nhau… không cần phải trả giá, không giảng tội lỗi, không đề cập môn đồ hóa, không còn quan tâm nên thánh là gì. Chỉ còn hưởng thụ Chúa – trong Christ không còn đoán phạt…
Giáo lý hội chúng ngày nay, gần giống Báp-tít ân điển của Hàn quốc “ăn năn một lần đủ cả. Chúa đã làm rồi, chúng ta không cần phải làm gì cả. Chỉ có đến hưởng thụ thôi. Ai còn ăn năn là không tin Chúa đã tha tội hết rồi, là vô tín….“
Hậu quả, nhiều lãnh đạo cựu trào người bỏ vợ, theo vợ bé; kẻ ly dị, số thì chạy theo thế gian kinh doanh làm giàu. Hai đại lãnh tụ có ảnh hưởng nhất thì “quy mã” tìm tự do dân chủ… trước đó đã từng tuyên bố đủ điều.
Dâng hiến thì tùy lòng; hộp tiền dâng thì để chỗ kín nhiệm. Tài chánh lại được nhận viện trợ của các anh em tư bản Đài loan… Vui vẻ cả làng, tham quan du lịch thoải mái…
Hậu quả Tại thành phố Hồ Chí Minh đã có 4 nhóm giống Cô-rinh-tô. Chủ thuyết hiệp nhất trong địa phương đã phá sản.
Tóm lược những điều sai lầm trầm trọng của ông Nghê, ông Lý và Hội chúng địa phương:
1. Lý thuyết suông giống Các-Mác Phật giáo.
2. Cường giải Kinh thánh – chẻ sợi tóc làm tư, quá khích vì chủ quan.
3. Không có chiến lược môn đồ hóa.
4. Ứng dụng thờ Thờ phượng I Côr 14:26 máy móc.
5. Một thành phố: một hội thánh, một quản trị theo hành chánh thế gian.
6. Tổ chức vô tổ chức: Chức vụ không minh bạch – không công khai.
7. Bế quan tỏa cảng: Chơi mình anh. Con trai con gái khó lập gia đình; phải lấy người ngoại.
Tóm lại :
Nếu Mục sư Hồ Hiếu Hạ,Nguyễn Hữu Cương là những vị tiền khu; thì nhóm Hội chúng địa phương chính là những chiến binh cắt đường mở lối cho phong trào tư gia thập niên 90.
Chúa dùng họ trong giới hạn. Mỗi người, mỗi nhóm đều nằm trong tay Chúa. Chúng ta trân trọng trong tinh thần “Ôn cố tri tân”, “Mọi sự hiệp lại làm ích lợi cho Hội thánh của Đức Chúa trời”.
Xem thêm lịch sử hội thánh trong bài “Tiến trình Chúa tái lâm” (cùng tác giả trên trang mạng).
QUẢ THẬT CON NGƯỜI LUÔN PHẠM SAI LẦM CHO ĐẾN KHI THẬT SỰ GẶP CHÚA!
Còn có ông cụ gọi là ông Bình Minh người Bắc gốc Công Giáo nữa. ông cụ này ra sao rồi? Ông truyền đạo Đặng Thế Thưởng và ông Nguyễn Viết Ánh ở Trần Cao vân, các ông này bây giờ ra sao? Ông nguyễn Bá tài nữa?
Cam on Chua dung MS nhu la cao trang cho HT sa bai ngay nay, MS cung dc Chua xuc dau chia se nhiêu le mau nhiêm ma xua gio toi chua dc học dc biết. Nguyên Chua ban Phước MS!
Cám ơn thầy nhiều,