Nhóm Mục sư Lê Khắc Tự, Hội thánh Trương Minh Giảng và công giáo về nguồn
Nhắc đến Mục sư Lê khắc Tự (Thầy đã về với Chúa). Vào khoảng thập niên 80, hầu hết các nhà thờ Tin lành trong thành phố Sài-gòn và các vùng lân cận đều biết rõ. Thầy vốn là một thương binh bộ đội; thầy được Chúa kêu gọi đặc biệt, rất được ơn và chứng đạo; nhiều người biết đến trong thập niên 80.
Chúa đại dụng thầy trong giai đoạn này, sự giảng dạy của Thầy làm cho nhà thờ CM&A Trương minh Giảng cho đến nhiều nhà thờ khác khó chịu, đề kháng. Hơn nữa thập niên 80 các nhà thờ Tin lành nguội lạnh bởi lối giảng ru ngủ, lại sợ hãi nhà cầm quyền. Thầy Tự lạ là bộ đội thương binh chuyển ngành; với cá tính cương trực, hơi cực đoan. các vị Mục sư Tin Lành thường không thích thầy.
Riêng thập niên 80 Có 4 nhân vật nổi tiếng trở lại Chúa;
1. Anh Lê Khắc Tự: thương binh Việt cộng.
2. Anh Bùi Trọng Tín: tướng cướp thành nhà truyền giáo.
3. Anh Đặng Văn Trung: thầy dòng Công giáo trở về.
4. Anh Thích Huệ Nhật: đại đức Phật giáo quy đạo.
Bốn nhân vật vang bóng một thời giúp các nhà thờ nguội lạnh, thêm phần ấm áp. Bốn anh em thuộc bốn nhóm đặc trưng trở lại Tin lành; họ góp phần không nhỏ cho tình trạng thuộc linh vốn khô cứng, nghèo nàn, bịnh tật thêm chút thuốc hồi sinh.
Bốn anh em như một hiện tượng, tạo được phong trào chứng đạo cách mới mẽ. Cho nên được các Hội thánh ưu ái mời đón đến từng chi hội làm chứng. Bốn người này đi đâu thì nhà thờ một phen đông nghẹt.
Khoảng đầu năm 1989 Mục sư Lê Khắc Tự, nguyên chấp sự Hội thánh Trương Minh Giảng thời thầy Trần Mai chủ tọa. Với cá tính và lòng nhiệt tình của thầy. Thầy cũng không chịu được truyền thống nhà thờ, bảo thủ cố chấp; và nhà thờ cũng không chịu nổi sự ngay thẳng nhiệt tình của thầy, phải đành phải đôi ngã chia ly.
Thầy Tự cùng một nhóm nhân sự, có cả vợ chồng tôi; kết hợp các nhóm Cơ Đốc Nhân khác, từ nhiều nhà thờ cùng chí hướng làm “ông tám Khỏe” tuyên bố ly khai khỏi CM&A, ra lập nhóm riêng; nhóm tư gia.
Lúc đầu nhóm tại nhà nhà này sang nhà kia. Khi đông dần trên 50 người nhóm tại khu “La-san Mai thôn” ở bình Quới.
Đây là nhà riêng của một vị linh mục Huệ về hưu. Khu vườn rộng bên bờ sông Sài Gòn rất thơ mộng để thờ phượng tự do trong Thánh Linh. Mỗi sáng chủ nhật, nhóm được khoảng từ 40 đến 70 người. Nhóm theo cách ICor 14:28.
Chúa thăm viếng, nhiều người biết, đến nhóm vui vẻ thật thà. Chúa cho nhiều dấu kỳ phép lạ: nhiều tấm lòng tan vỡ, nhiều bịnh tật nan y được chữa lành.
Lúc đầu chỉ biết nhóm thờ phượng, tự do thờ phượng đối nghịch sự thờ phượng khô cứng, độc tài bảo thủ của nhà thờ. Nhóm chưa có tên gọi, chưa thực sự có đường lối rõ ràng, bởi đức tin làm theo Công Vụ Sứ Đồ.Tạm gọi nhóm tự phát. Anh em rất vui , rất thỏa lòng; số người nhóm mỗi ngày tăng lên.
Khoảng giữa năm 1989 một biến cố xảy ra: Nhóm thầy Tự được Giáo sư Đặng Văn Trung ở Vĩnh Long, môn đồ trung tín của Nghê Thác Thanh – Lý Thường Thụ. trưởng lão của Hội chúng địa phương giúp đỡ.
Anh Trung đã dạy đường lối khôi phục theo lý thuyết Nghê thác Thanh. Hàng tháng anh Trung lên Sai Gòn huấn luyện đường lối Hội thánh địa phuong, truyền bá các văn phẩm Nghê-Lý. Số anh em theo học rất đông, rất nhiệt tình cảm xúc giống Tố hữu:
“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lý chiếu qua tim“
Nhờ những bài học về Hội thánh, hội thánh địa phương. Nhóm thầy Tự khoảng 50 người và nhóm Hội chúng địa phương Sài Gòn của Phạm Xuân Nhân, Lương Thăng Long kết duyên với nhau: cùng lấy tên thống nhất là “Hội thánh của Đức Chúa Trời tại thành phố Hồ chí Minh”.
Hai nhóm sống chung với nhau chưa được một năm trăng mật; Thầy Tự thấy được cái đuôi của nhóm Hội chúng địa phương muốn đồng hóa, nuốt trọn nhóm Thầy Tự. Tinh thần Ni-cô-la của các trưởng lão Hội chúng cực đoan, quá khích chỉ kém hơn Giáo Hoàng một bực.
Đã lỡ kết ước với Ga-ba-ôn; ngậm bồ hòn khen ngọt. Nói sao bây giờ, giấy mực đã ký rồi.
Số Hội thánh Sài Gòn và các tỉnh lân cận khá đông. Riêng những người chăn bầy mỗi lần họp cũng đã khoảng 30 người.
Nhóm Hội chúng địa phương đã có lập trường rõ ràng, có đường lối tư tưởng Nghê Thác Thanh, Lý thường Thụ. Trong lúc nhóm thầy Tự vừa ít ,vừa tự phát, lại không có phương hướng đường lối rõ ràng, thì sự hiệp một lại cũng đồng nghĩa sát nhập, hòa tan theo ý đồ của Hội chúng địa phương. Hiệp một, chuẩn bị cho hiệp hai, rồi hiệp phụ và kết thúc phải “penanty”.
Chưa qua một năm trăng mật, thầy Tự không chịu nổi áp đặt tư tưởng Nghê Thác Thanh của Hội chúng Địa phương. Thầy Tự tuyên bố xé giao ước Ga-ba-ôn; rút lui một mình. Mộ số nhân sự theo thầy sống thử để xem đoàn xiếc làm gì tiếp.
Tôi nhịn nhục thêm đến cuối năm 1995 cũng đành phải “Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé!”
Trong một buổi họp của hơn 20 người tại nhà anh Lâm Sơn Bổn, tôi tuyên bố: Tôi ra khỏi Hội chúng địa phương vì lý do, “Các anh em đã đi sai đường lối – Theo Nghê Thác Thanh – Lý thường Thụ, không giống Công vụ sứ đồ. Anh em sống theo bè đảng , cố chấp, bế môn tỏa cảng phi kinh thánh…”
Tôi và vợ tôi ra đi tay không; số tín hữu tôi gây dựng ở lại với họ.
Trong thời gian này, nhà cầm quyền gia tăng giám sát, nhất là sau khi Ba-lan sụp đổ, rồi Đông Âu, Liên-sô tan rã. Nhà cầm quyền lo sợ nhóm tư gia phát triển. Chính quyền Cộng sản gia tăng sự bắt bớ, quyết tận diệt cho được các phong trào tư gia, hoặc phải quốc hữu hóa như Tin lành miền bắc.
Họ nghĩ sau lưng anh em tư gia là thế lực đen của CIA Mỹ, dùng anh em như là một diễn tiến hòa bình, lật đổ chế độ cũng như Đông Âu hay Liên-sô.
Riêng ban lãnh đạo CM&A mất dần uy tín, số tín đồ Tin Lành sang gia nhập tư gia mỗi ngày mỗi đông; nhiều Mục sư chủ tọa cũng tìm hiểu tham gia. Cho nên, các cụ phải noi gương Giáo Hoàng, dùng đủ mọi thủ đoạn để ngăn chặn, giữ chiên. Họ ra văn bản, giảng trên nhà thờ lên án, bôi nhọ anh em tư gia là phản loạn, tà giáo… như Công giáo chụp cho phe cải chánh cái mũ Đạo rối, thệ phản…
Những thủ đoạn của lãnh đạo CM&A; những ngăn cấm bắt bớ tù đày của chính quyền, không ngăn cản được ý muốn Đức Thánh Linh cùng ý chí muốn sống cho Chúa. Các nhóm tư gia như vết dầu loang, cứ loang thêm, loang xa hơn, mạnh hơn.
Nhóm Tuy lý Vương của Mục sư Đinh Thiên Tứ được kể là bông hoa tỏa hương truyền giáo và truyền giáo có kết quả nhất trong thời giai đoạn 1989 đến 1990.
Nhóm Tuy Lý Vương: Mục sư Đinh thiên Tứ 1989
a. Bối cảnh ra đời
Dân Sài Gòn vốn sống tự do phóng túng đã phải qua 15 năm luân lạc Thúy Kiều, lòng ai cũng tan nát như tương tàu, đầu óc lúc nào cũng muốn ra đi vượt biên tìm tự do.
Có bài thơ thay lời muốn nói:
“Thân thể ở trong nước
Tâm hồn ở ngoài nước
Muốn nên sự nghiệp lớn
Ta càng phải xuống nước”
Phong trào vượt biên, chương trình ra đi trong vòng trật tự (ODP) là nỗi ám ảnh cho nhiều con cái Chúa, cả người chăn bầy.
Sau khi nhóm Hội chúng địa phương cực đoan quá khích, nhóm anh Tự giậm chân tại chỗ, không phải là điểm tựa, niềm hy vọng cho con cái Chúa. Lòng dân sự vẫn buồn đau, khô héo.
Mục sư Đinh thiên Tứ đáp ứng được nhu cầu tâm linh: truyền giáo mở mang Vương quốc.
Mục sư Tứ vốn được đào tạo để làm nhà truyền giáo, ông lại có sở trường ăn nói lưu loát, hùng biện thuyết phục được nhiều người. Ông thiết lập chương trình truyền đạo sâu rộng: khuyến khích Hội thánh ra đi truyền giáo. Chương trình cá nhân chứng đạo của ông đã có kết quả.
Mỗi tối Chúa nhật, nhà thờ Tuy Lý Vương đều tổ chức truyền giáo. Số người tin gia tăng, gia tăng. Cả vùng lân cận như Thủ Đức, Biên hòa, thuê xe lam đến nhóm. Hội thánh Tuy Lý Vương chỉ một năm không còn chỗ ngồi.
Trong lúc đó, các cụ lãnh đạo CM&A , Hội trưởng Ôn văn Huyên ngoài 80, mắt đã làng, tai lại không nghe; vốn nhà nho bảo thủ, bên cạnh lại nhiều nịnh thần vốn ganh tị Mục sư Tứ.
Mục sư Tứ cũng có cá tính, lại có kết quả, uy tín hơn cả ban lãnh đạo giáo hội CMA già nua tham quyền cố vị.
Mục sư Tứ lại muốn canh tân giáo hội, làm cách mạng theo kiểu Martin Luther; ông vượt rào một số hiến chương điều lệ lỗi thời, phi Kinh thánh. Ví dụ: Mục sư mới được ban tiệc thánh, làm phép giao, phép Báp-tem v.v… Lãnh đạo CM&A cho rằng ông Tứ chủ trương lập một Tin lành trong một Tin lành, ông không còn vâng phục giáo hội…
Giọt nước tràn ly; nhơn cớ làm đám cưới cho tôi (Nguyễn Duy Thắng và Phạm Thị Huệ) tại nhà thờ Tuy lý Vương. Họ lấy cớ tôi không phải là tín đồ Tuy Lý Vương, vợ tôi là tín đồ Phạm Thế Hiển. Mục sư Tứ lại chưa được tấn phong Mục sư v.v…
CM&A đã ra văn bản cách chức Mục sư Tứ, lấy lại nhà thờ Tuy lý Vương.
Các tin đồ Tuy lý Vương hơn 500 người viết đơn đấu tranh đòi tự trị. Cuộc chiến thuộc linh lẫn xác thịt nổ ra ngày thêm gay gắt. CM&A cậy chính quyền áp lực ông Tứ.
Kết thúc: đầu năm 1989 nhóm Mục sư Tứ cũng phải làm “ông tám Khỏe” bất đắc dĩ. Phải tuyên bố ly khai CM&A thành lập nhóm tư gia chưa có tên gọi.
Mục sư Tứ phải ra khỏi nhà thờ sau 48 giờ mang theo hơn 500 tín hữu, giống Đa-vít quy tụ 400 người nghèo khổ, bần cùng lập chiến khu chống lại nhà Sau-lơ.
Có thể nói Mục sư Tứ là một hiện tượng đặc biệt, trong một hoàn cảnh rất đặc biệt cho Hội thánh Tin lành miền nam. Sự kiện ông bị cách chức là một biến cố trọng đại cho giáo hội cũng như cho mục sư Tứ và cả các phong trào ly khai khỏi giáo hội CMA.
Công bình mà nói các ông lãnh đạo giáo hội CM&A bấy giờ cũng ở thế bị động, như Giáo Hoàng không còn con đường nào khác để bảo vệ ngai vương, quyền lợi của mình và cả giáo hội. Cách chức Mục sư Tứ phải nhờ cả thế lực Sê-sa là một sự nhục nhã, phi Kinh thánh, thiếu đạo lý, mất uy tín với giáo dân.
Bản án của giáo hội với Mục sư Tứ chỉ thua giáo hội thời trung cổ, vô đạo đức, rất dã man: 48 giờ phải ra khỏi nhà thờ.
Mục sư Tứ đã bàn giao cơ sở vật chất trong hòa bình trước sự bảo hộ của chính quyền với đoàn quân đằng đằng sát khí của giáo hội.
Tôi may mắn được chứng kiến từ đầu đến cuối. Mục sư Tứ đối xử rất thuộc linh: trả lại cho giáo hội tất cả những gì mình có, cả những đôi đũa tre, giống như “ngày xưa Hoàng Thị”.
“Trả lại cho em khung trời đại học, con đường Duy Tân, cây dài bóng mát.” Của Sê-sa phải trở về Sê-sa, của giáo hội phải trả lại giáo hội.
Mục sư Tứ bàn giao trước chính quyền từ chiếc đũa ăn cơm đến mọi thứ của nhà thờ. Giáo hội thắng lớn: nhà thêm nhà, hàng thêm hàng, vật chất thêm vật chất!
Chính sự kiện này Mục sư Tứ được anh em gần xa tôn trọng; hơn 500 người theo thầy, như Hội thánh Giê-ru-sa-lem bị bách hại, tỏa ra khắp nơi lập nhiều điểm nhóm tại tư gia, mọc ra, mọc thêm. Nhiều tín đồ, cả những chức sắc CM&A gia nhập, Chúa đã ban phước lạ lùng: thuộc linh thuộc thể sung mãn.
b. Khởi sự thuộc linh – Kết thúc xác thịt
“Ai đã xui Alisa vào khung cửa hẹp?
Ai đã đẩy Thúy Kiều vào lầu xanh?”
Cùng câu hỏi đó, có người thắc mắc: nguyên nhân nào khiến Mục sư huyền thoại thành Ba-la-am rợn người.
Ai đưa ông Tứ lên cao ngất ngưỡng?
Ai đã chìm ông Tứ xuống tận bùn đen?”
Câu trả lời: chính ông đưa ông lên cao các tầng mây; rồi cũng chính ông tự bay xuống bùn đen không cần dù yểm trợ.
Mục sư Tứ là con người quá khôn ngoan, khôn ngoan như truyện kiều “ thông minh vốn sẵn tư trời”. Lời giảng của ông cóc trong hang cũng phải bò ra nghe, tiền trong túi cũng phải dâng, vàng trong két không cánh bay ra. Ông có khả năng tổng hợp: triết lý đông tây kim cổ thành một bản hợp xướng nghe êm tai, sướng dạ.
Ông giỏi cả Tào Tháo lẫn Khổng Minh, kiêm cả triết lý Kim Dung: vô chiêu thắng hữu chiêu. Ông nghiên cứu học thuyết Mác-Lê-nin: lượng chuyển thành chất… Thưa các kiểu, kiểu nào cũng nhuyễn.
Ngoài ra ông Tứ còn kết hợp nhuần nhuyễn triết lý duy lợi của Mỹ “không bạn, không thù; chỉ có lợi” và “không cần mèo đen hay mèo trắng; chỉ cần mèo nào bắt được chuột “của Mao trạch Đông.
Nhờ sự khôn ngoan đó, ông được Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ưu ái, tôn trọng mời đi làm thuyết khách giúp chính phủ tránh họa CPC. Vị trí ông ngồi ngang với hàng bộ trưởng tại nhà Trắng và đồi Capitol.
Ông say mê với sự khôn mình, quên mất điều này:
Không tử : Khôn quá cũng chết, dại quá cũng chết; chỉ biết là sống”.
Kinh thánh:
“Ta sẽ hủy phá sự khôn ngoan của người khôn ngoan, tiêu trừ sự hiểu biết của người hiểu biết” – I Cor 1:19
“ Có một con đường dường như chính đáng cho loài người; nhưng cuối cùng nó thành ra nẻo sự chết” – Châm 14: 12
Những ngày đầu hàn vi, Mục sư Tứ đối nhân xử thế rất biết điều với nhân sự, với tín đồ (không biết có giống Áp-sa-lôn?)
Những năm 1980 Hội thánh Tuy Lý Vương còn nghèo, lương nhà thờ không đủ nuôi con. Ông phải đi bán nước tương thêm để đủ nuôi con (ông đông con).
Đến năm 1989 ông đủ lông đủ cánh: hơn 500 tín hữu hậu thuẫn, không ít ân nhân hải ngoại sau lưng ông. Chuyện tiền nong thì ông học được từ Giô-sép – chồng Ma ri “toan để nhẹm”; “thiên cơ bất khả lậu”. Nhân sự thân cận cũng không được biết chuyện cơ mật này.
Ra khỏi nhà thờ một thời gian rất ngắn, đã mua được nhà Tân Bình. Sự hy sinh của ông xứng đáng được căn nhà khiêm tốn, chúng ta cám ơn Chúa.
c. Đường lối giáo dục của Mục sư Đinh Thiên Tứ
Truyền giáo cứu người hay sản xuất hàng công nghiệp?
Lối dạy dỗ của ông Tứ như bộ công thương thời bao cấp, lập kế hoạch sản xuất, lên kế hoạch chỉ tiêu sản xuất. Kế hoạch là báo cáo thu hoạch.
Ông buộc nhân sự phải lập chỉ tiêu mỗi tháng phải đem bao nhiêu người về với Chúa! Không đủ thì không có phụ cấp truyền giáo. Người nào đem nhiều thì được thăng quan tiến chức. Muốn lên Đại tướng phải thắng Trung tướng.
Thế là phải báo cáo láo thôi. Tôi kể một kiểu làm chứng của nhân sự ông. Thường dịp Giáng sinh, ông làm hàng trăm ngàn phần quà nhỏ, mỗi phần 5000 đồng. Mỗi nhân sự ra ngã ba, ngã tư đường hay vào nhà nông thôn hẻo lánh nghèo khổ phát cho mỗi em một phần, rồi cầu nguyện cảm tạ Chúa. Chụp hình, báo cáo mỗi phần quà là một người tin Chúa… Chưa kể ông cho nhân sự đi chiêu hiền đãi sĩ mua chuộc bởi danh lợi quyền. Đó gọi là chiến lược giáo dục, là con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất của ông Tứ.
Hậu quả: Nhiều nhân sự bị cáo trách, phản đối lối làm ăn dối trá trắng trợn đó. Họ phải ly khai; hết đợt này đến đợt khác. Ông lại chiêu dụ kẻ khác vào; nhân sự thêm vào, số chi hội gia tăng… Thật chất chỉ là con số ảo.
Có người hỏi những nhân sự thân cận nhất của ông: Số lượng ông Tứ báo cáo tin được bao nhiêu phần trăm? Hầu hết trả lời: bớt 80%.
Không phải ngẫu nhiên, hầu hết anh chị em ruột trong gia đình ông phải nói lời chia tay với ông. Những công thần từ khi khai sinh Hội thánh chỉ còn lại duy nhất một người: đó là vợ ông, nghe nói hai vợ chồng chỉ hiệp một khi đi ra nước ngoài thôi.
d. Hậu quả gieo phải gặt – Biến cố kinh hoàng năm 1996 – 1997
Khoảng thập niên 90 hai kỳ phùng địch thủ: bên tám lạng, kẻ một cân; không ai ngoài Mục sư Tứ và Mục sư Trần Mai. Các nguồn tài chánh kếch xù đổ vào hai ông như thác lũ. Các đại gia ân nhân họ cảm phục kết quả truyền giáo, cùng sự hy sinh tù tội của hai ông; đặc biệt nghệ thuật bùa chú của ông Tứ. Họ giúp cả hàng trăm ngàn đô-la không cần viết biên nhận; lấy lý do an toàn tài chánh, bảo mật tài chánh (nhà nước biết thì nguy).
Acan viếng thăm; tiên tri Ba-la-am nhập hồn. Lòng tham không cưỡng được tiếng nói Thánh Linh, đồng đô-la hấp dẫn hơn cả tình đồng lao, đồng đội.
Người đời còn nói “ cây kim trong túi có ngày lòi ra”
Kinh thánh thì quá nhiều điều nhắc nhở :
“ Chẳng có vật nào được giấu kín trước mặt Chúa, nhưng thảy đều trần trụi và lộ ra trước mắt Đấng mà chúng ta phải thưa lại” Hê bơ rơ 4 : 13
Acan phải trả giá. Thâm lạm tiền bạc, gian tham tiền bạc của cả vợ chồng ông Tứ bị phát hiện với bằng chứng rõ ràng, có biện nhận 60.000 ngàn đô của vợ chồng giáo sĩ giúp Hội thánh Liên hữu Cơ đốc, ông Tứ không vào sổ. Tự ý lấy tiền mua đất kinh doanh.
Hơn 2/3 ban Thường vụ Hội thánh Liên hữu họp, quyết định ngưng chức Tổng quản nhiệm Đinh thiên Tứ, kêu gọi ông Tứ ăn năn. Vợ ông tứ bị cách chức ngay, cũng liên quan tiền bạc. Bà tứ nguyên trưởng ban thiếu niên nhi đồng toàn quốc của Liên hữu cơ-đốc.
Cháy nhà lòi mặt chuột. Vợ ông Tứ là Trưởng ban thiếu nhi toàn quốc, cũng không thua gì chồng, và cả hai đã bị kỷ luật. Liên hữu cơ-đốc chia thành 2 phe. Một phe hơn 2/3 thường vụ Liên Hữu do Phạm Đình Nhẫn cầm đầu ra thành lập Chúa Jesus; sau này đổi thành Hội thánh liên hiệp truyền giáo. Mang theo hầu hết tài chánh, cùng tài sản của Giáo hội, được sự ủy thác của nhà tài trợ. Còn lại ông Tứ ngậm đắng nuốc cay làm lại từ đầu: khôi phục vương triều đổ nát Cơ Đốc Liên Hữu.
Trận chiến giành giật vương quyền còn kéo dài cho đến hôm nay: Giê-rô-bô-am và Rô-bô-am bên nửa cân bên 8 lạng. Ly kỳ bi đát.
Tôi không hiểu tại sao các vị khác lại ra sức đã phá bài viết này. nếu quý vị nghỉ rằng nó không đúng thì nên sử dụng forum này để lên tiếng vì sao tác giả viết không đúng; còn nếu những điều này là đúng thì nên im lặng.. tôi nghỉ rằng đã là những sự kiện lịch sử thì không thể nào nói khác được.
Vào những năm 2003, 2004 được nghe sự làm chứng của các vị lãnh đạo các hệ phái được mời qua tham dự Đai hội Liên Hữu ở California, chúng tôi (một số anh em sv của trường UUC) đã lắm làm thích thú khi nghe các vị đó khoe là số thành viên của hệ phái họ nhiều khi lên tới mấy trăm ngàn người với cả gần ngàn điểm nhóm, chúng ta đã cười vì biết rằng con số đó là “sạo”. Mà cũng có thể là đúng bởi vì 1 người tín đồ được mời đi tới 5, 7 buổi nhóm khác nhau cho nên cùng phải đưa vào danh sách, bởi vì, càng nhiều người trong danh sách thì càng có nhiều tiền. Thật ra, tôi tin rằng, sự khởi đầu luôn luôn đúng, nhưng rồi dần dần mất đi vẻ chính trực của nó, ngay cả trong sự ủng hộ bằng tài lực. Đã nhận tiền là phải báo cáo để nhận thêm, mà báo cáo thì không ai báo xuống hết mà lúc nào cũng báo lên; chẳng hạn, chúng tôi có 10 điểm nhóm thì lần sau phải là 15, hay 20.. dẫn tới chuỵên số tín hữu. Tôi còn được nghe, họ tổ chức trại cho giới trẻ bằng cách ra người đường gom những em bán vé số vô gia cư, rồi lùa các em lên xe bus (do tài trợ) chạy thẳng tới điểm, chụp hình vào ba cái để đem qua Mỹ rồi xin tới các HT để xin tiền về mở mang vương quốc Chúa.
Cách đây hơn 10 năm, tôi có dịp đi lên Oregon và ghé thăm gia đình một tôi tớ Chúa đã định cư tại Mỹ từ những năm 70s mới được biết là ông đã cổ động toàn gia đình của mình hỗ trợ cho rất nhiều MS tư gia tại VN (coi như là hưởng lương hàng tháng)…tôi mới ngộ ra là như vậy, chúng ta đã giết đi sự hvC của họ, của cã những người đi theo họ (bởi vì những người đó thấy thầy của mình sao được tiền nhiều qua, còn mình làm mà chẵng được chi, cho nên mới tách ra thêm thành nhiều hệ phái nữa, mà càng nói càng nhiều điểm nhóm và số lượng thì càng được kính nể, giảng những bài giãng mang đậm tính tâm lý thì càng làm cho người ta thích…)
Biết được lịch sử không phải để chỉ trích hay lên án, mà để tránh cho lớp trẻ theo sau không rơi vào trong vùng lẩn quẩn bởi sự rời bỏ sự kêu gọi của chính Chúa trên đời sống của người hầu việc Ngài.